An Hầu Đan

Hỗ trợ giảm các triệu chứng do viêm họng cấp và mãn tính, viêm họng hạt, viêm amidan… Hotline: 18006523

An Hầu Đan

Với sự kết hợp của những thành phần được chiết xuất từ thảo dược như Cúc Lục Lăng, Sơn Đậu Căn, Thăng ma, Lược Vàng,...Giúp điều trị hiệu quả cho những trường hợp bị viêm họng cấp và mãn, viêm amidan, viêm họng hạt,... Không cần phải sử dụng đến kháng sinh.

An Hầu Đan

Giúp xoa dịu những triệu chứng khó chịu do viêm họng, amidan gây ra như: đau họng, ho, cảm thấy vướng khi nuốt, khản tiếng, mất tiếng

An Hầu Đan

Sản phẩm sử dụng an toàn cho mọi đối tượng, không tác dụng phụ. Có thể sử dụng hằng ngày để giúp phòng ngừa các bệnh viêm đường hô hấp trên.

Công ty TNHH Y Dược Kinh Đô

Địa chỉ: Số 12 Ngách 34 Ngõ 100 Đường Hoàng Quốc Việt, P. Xuân La, Q. Tây Hồ, Hà Nội.

Hiển thị các bài đăng có nhãn amidan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn amidan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Có nên cắt Amidan không?


Amiđan là hai cục lympho ở họng, (gọi là “cửa ngõ” của đường thở), có tác dụng ngăn chặn những vi khuẩn vi trùng đầu tiên xâm nhập vào cơ thể. Nếu không còn amidan thì bộ phận bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật đầu tiên đã bị loại bỏ. Cụ thể là amidan sản sinh ra kháng thể IgG – một loại rất cần thiết với hệ miễn dịch.
Viêm Amidan 
Amidan có thể viêm nặng hơn sau khi cắt
Không phải tất cả trẻ em đều có thể cắt amidan, nhất là những trẻ lặp đi lặp lại tình trạng nhiễm trùng như viêm họng. Theo các nhà nghiên cứu, ước tính 10% khả năng amidan sẽ phát triển trở lại trong vòng 2-3 năm sau. Sau khi phẫu thuật, amidan có thể phát triển trở lại. Thậm chí có trẻ càng bị viêm nặng hơn sau khi cắt bỏ amidan. Vì vậy, khi quyết định cho trẻ cắt amidan, bạn cần sự tư vấn của bác sĩ để lựa chọn phương pháp và biện pháp phù hợp để tránh amidan tái phát.
Cắt amidan không áp dụng trong các trường hợp:
Đang có viêm nhiễm cấp tính tại amidan, vùng xung quanh amidan như mũi, xoang và toàn thân như cúm, sởi, sốt xuất huyết…Khi đang có bệnh mạn tính chưa ổn định như tiểu đường, viêm gan, lao, bệnh giang mai, AIDS...Phụ nữ đang thời kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai hoặc đang nuôi con bú.
Không nên cắt amidan khi trẻ dưới 5 tuổi vì một mặt sẽ ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của trẻ, mặt khác vì amidan chưa phát triển hết, nếu cắt nó sẽ phát triển lại.
Thận trọng khi cắt amidan cho người trên 45 tuổi vì ở lứa tuổi này còn nhiều bệnh kèm theo mà các bệnh đó được chống chỉ định trong cắt amidan như bệnh tăng huyết áp, bệnh về tim mạch (xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành). Hơn nữa ở lứa tuổi này amidan thường bị xơ hóa nếu cắt có thể gây chảy máu nhiều và kéo dài, rất nguy hiểm cho tính mạng...
Phẫu thuật cắt amidan chống chỉ định tuyệt đối trong trường hợp bệnh lý toàn thân không kiểm soát tốt như bệnh xuất huyết, giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, cao huyết áp, suy tim, phụ nữ có thai,…
Hãy cân nhắc thật kĩ trước khi thực hiện cắt bỏ amidan.
Như chúng tôi đã phân tích ở trên, vai trò của amidan với sức khỏe con người là điều không thể phủ nhận. Vì vậy, việc có nên cắt amidan hay không là cả một vấn đề đáng bàn. Đặc biệt là với người lớn và trẻ nhỏ.
Bởi theo các nhà khoa học đã đánh giá: Dù viêm nhiễm nhưng amidan vẫn có những khả năng nhất định. Chỉ cần làm sao để khắc phục được tình trạng viêm nhiễm đó thì chắc chắn việc cắt bỏ amidan là điều không cần thiết.

Tham khảo sản phẩm thảo dược giúp hỗ trợ điều trị viêm amidan mãn tính, viêm amidan hốc mủhttp://anhaudan.com/
Chuyên gia tư vấn: 094 2901133.




Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

Cúc lục lăng khắc tinh của viêm họng, viêm amidan


Với mục tiêu giải quyết nhanh các triệu chứng do viêm họng, viêm amidan như ngứa, đau, rát cổ họng đồng thời nâng cao tính an toàn cho người bệnh không muốn hoặc không thể dùng kháng sinh. Bác sĩ Hoàng Sầm đã nghiên cứu, vận dụng thành công các cây thuốc quý theo kinh nghiệm dân gian, phối vị thêm nhiều vị thuốc có tinh kháng virus, sát khuẩn mạnh là nguyên nhân hàng đầu gây nên bệnh viêm họng, viêm amidan cấp và mãn tính và cho ra đời sản phẩm An Hầu Đan có thành phần như dưới đây.

Cúc lục lăng còn có tên gọi là Xú linh đan hay Linh đan hôi, Đại Hắc Dược. Tên khoa học là Laggera pterodonta. Là cây thuốc quý hiếm thường sống ở các vùng núi cao Việt Nam như Hà Giang, Sơn La, Lào cai… 
Cúc lục lăng trong dược điển Trung Quốc với đặc tính kháng virus, chống viêm rất mạnh, nên y học hiện đại đã tiến hành nghiên cứu rất nhiều về đặc tính kháng virus này và cho kết quả khả quan, là loại cây đứng thứ 2 về khả năng diệt các loại virus.
Theo Võ Văn Chi, 2012, Từ điển cây thuốc Việt Nam(Bộ mới), tập I, trang 677, NXB Y học, Hà Nội. Cúc lục lăng có “vị đắng, cay, tính hơi hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng bạt nung. Ở Trung Quốc, cây được dùng trị cảm nhiễm phần trên đường hô hấp, sưng amygdal, viêm khoang miệng, cảm cúm, viêm họng, viêm nhánh khí quản, sốt rét, mụn nhọt sưng lở”.
Có thể nói, Cúc lục lăng chính là cây thuốc quí với bệnh nhân bị viêm họng.
Tham khảo sản phẩm có thành phần Cúc Lục Lăng TẠI ĐÂY

Khả năng kháng viêm của Cúc lục lăng
Khi so sánh khả năng chống viêm của hỗn hợp các flavonoid chiết từ cây Cúc Lục Lăng với chất dexamethasone trên tế bào chuột. Kết quả cho thấy hỗn hợp flavonoid có khả năng chống viêm mạnh, cả viêm cấp lẫn viêm mãn tính. Cơ chế chống viêm của hỗn hợp flavonoid là ức chế sự hình thành prostaglandin, điều hòa đến hệ thống chống oxy hóa và ngăn chặn sự phóng thích lysozyme. Nghiên cứu độc tính cấp cho thấy, chiết xuất flavonoid gần như không độc hại với các động vật thí nghiệm. Vậy với hoạt tính sinh học mạnh và độ an toàn cao, chiết xuất flavonoid của cúc lục lăng sẽ là một chất rất tiềm năng để phát triển thành một loại thuốc chống viêm.
Bởi vậy, khi sử dụng cúc lục lăng trong trường hợp bị viêm họng cấp rất hiệu quả, chỉ cần uống hoặc súc miệng 2 ngày 1 lần đã thấy các triệu chứng như ngứa rát cổ họng giảm đi rõ rệt.

Khả năng kháng virus của Cúc lục lăng
Theo thống kê, nguyên nhân gây viêm họng 40-80% là do virus , còn lại là do các nguyên nhân khác như vi khuẩn và ô nhiễm môi trường. Đây chính là nguyên nhân khiến cho rất nhiều người gặp phải sai lầm khi sử dụng kháng sinh khi bị viêm họng, dẫn tới tình trạng kháng thuốc kháng sinh. Lưu ý rằng, kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng lên virus.
Tác dụng kháng virus của Cúc lục lăng được coi như cứu cánh cho người bị viêm họng. Các nhà nghiên cứu dựa trên y học cổ truyền đã tiến hành nghiên cứu Cúc lục lăng và cho thấy Cúc Lục Lăng cho thấy khả năng kháng virus mạnh, khả năng kháng virus ngang ngửa với Ribavirin (thuốc kháng virus điều trị viêm tiểu phế quản và viêm phổi do virus duy nhất được chấp nhận) nhưng có độ an toàn cao hơn. Một nghiên cứu thực hiện vào năm 2007 để tìm kiếm hoạt chất trong Cúc Lục Lăng có tác dụng kháng virus cho thấy: 3 axit dicaffeoylquinic là axit 3,5-O-dicaffeoylquinic, axit 4,5-O-dicaffeoylquinic và acid 3,4-O-dicaffeoylquinic có tác dụng kháng virus rất mạnh, nhất là với các nhóm virus gây ra các bệnh về đường hô hấp.
Bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình bạn
Xuất phát từ những kinh nghiệm nhiều thế hệ hiện đại, kết hợp với kiến thức y học hiện đại, Bác sĩ Hoàng Sầm – chủ tịch viện y học bản địa đã tiến hành nghiên cứu tập trung vào khả năng kháng virus gây bệnh trên đường hô hấp, cho nên tác dụng tiềm năng nhất của Cúc Lục Lăng là để điều trị các bệnh viêm đường hô hấp như viêm họng, viêm amidan, viêm phế quản… Làm tiền để cho việc ra đời sản phẩm An Hầu Đan, dành riêng cho những người bị viêm họng cấp, mãn tính nhưng không thể hoặc không muốn sử dụng kháng sinh trong việc điều trị. Đây là một tin vui cho những người đang bị căn bệnh này quấy rầy, đặc biệt là ở Việt Nam, nơi có khí hậu nóng ẩm, môi trường ô nhiễm khiến cho bệnh viêm họng rất dễ tái phát lại nhiều lần.
Tham khảo sản phẩm có thành phần Cúc Lục Lăng TẠI ĐÂY

Hoặc có thể gọi tới số Hotline 0942901133 để được tư vấn và hỗ trợ.



Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018

An Hầu Đan giúp điều trị viêm amidan, viêm họng, viêm thanh quản

Tình trạng sử dụng kháng sinh để điều trị viêm họng để lại rất nhiều hậu quả đáng tiếc như tình trạng kháng thuốc, gây hư hại gan thận, rối loạn tiêu hóa, suy giảm miễn dịch, mệt mỏi,... Xuất phát từ ý tưởng đó, kết hợp với kinh nghiệm 13 đời làm nghề thuốc nam, Bác sĩ Hoàng Sầm – Chủ tịch viện y học bản địa Việt Nam đã nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm AN HẦU ĐAN từ bài thuốc Đông Y cổ phương từ những cây thuốc quý của Việt Nam, dựa theo thuyết Quân Thần Tá Sứ trong Đông Y. Giúp người bị viêm họng, viêm họng hạt, viêm amidan cấp và mãn tính nhanh chóng thoát khỏi những khó chịu do đau, ngứa, rát cổ họng, khàn tiếng, ho, đờm và giải quyết tận gốc bệnh viêm họng mà không cần phải sử dụng kháng sinh.

THÔNG TIN CHI TIẾT VỀ SẢN PHẨM AN HẦU ĐAN.

THÀNH PHẦN:
Cúc lục lăng…………………………….150 mg

Sơn đậu căn……………………………100 mg

Lược vàng………………………………..80 mg

Thăng ma …………………………………80 mg

CÔNG DỤNG:
Giúp hỗ trợ giảm ho, đau rát ngứa họng, tiêu đờm, giảm viêm trong các trường hợp viêm đường hô hấp trên, viêm amidan, viêm thanh quản.
ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG:
– Dùng cho các trường hợp viêm đường hô hấp trên: Viêm họng cấp tính, mãn tính,
viêm thanh quản, viêm amidan, viêm họng hạt.
– Người lớn và trẻ em trên 2 tuổi bị ho do thay đổi thời tiết, môi trường, cảm lạnh,
nhiễm lạnh

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG:
– Ngậm tan trong miệng và nuốt dần, người lớn liều trung bình dùng 1 viên/lần x 4
lần/ngày x 7 – 10 ngày, ngậm tan bất kể thời gian nào trong ngày. Liều cao có thể
dùng tới 10 viên/ngày.
– Trẻ em > 2 tuổi: Dùng bằng ½ liều người lớn.

LƯU Ý:
– Không sử dụng khi sản phẩm đã hết hạn dùng;
– Không dùng quá liều ghi trên toa;
– Không dùng cho đối tượng dị ứng với các thành phần của sản phẩm.
– Phụ nữ có thai, cho con bú cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

Bảo quản: Để nơi khô mát, tránh ánh sáng trực tiếp, nhiệt độ dưới 30độC, để xa tầm
tay của trẻ em

LIÊN HỆ HOTLINE: 094 290 1133

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

Viêm họng mạn tính và cách điều trị

     Họng là ngã tư giữa đường ăn và đường thở, là cửa ngõ của không khí, thức ăn và nước uống. Vì vậy có thể nói là nơi rất thuận lợi cho các yếu tố ngoại lai, virut và vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Khi nhiễm khuẩn tái phát nhiều lần ở vùng mũi họng: như viêm mũi mạn tính, viêm xoang. Dịch nhầy xuất tiết luôn chảy xuống họng là nguyên nhân thường xuyên gây nhiễm khuẩn họng dẫn đến làm quá phát tổ chức lypho ở thành họng.
Viêm họng mạn tính
    Chúng ta cùng tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân gây bệnh và các thể viêm họng mạn tính thường gặp.
1. Nguyên nhân:
- Bệnh thường gặp do ảnh hưởng của ngạt, tắc mũi mạn, phải thở bằng mồm kéo dài, nhất là về mùa lạnh, do viêm xoang nhất là viêm xoang sau: nhầy, mủ luôn chảy xuống họng.
- Do các kích thích như thuốc lá, rượu( ở người nghiện), bụi( ở những người phải làm việc ở công trường, quét đường,…).
- Cũng gặp do yếu tố thể trạng, bệnh toàn thân như cơ địa, dị ứng, suy gan,…
   Triệu chứng chính là cảm giác khô, nóng, rát trong họng hoặc có cảm giác ngứa, vướng hay nhói trong họng, thường tăng lên khi nuốt.
    Bệnh nhân hay phải khạc nhổ, có ít nhầy, quánh và cũng thường hay bị ho, nhất là về đêm, khi lạnh.
    Khám họng: tùy theo tổn thương, có thể thấy các thể.
1.1. Viêm họng mạn xuất tiết:
- Niêm mạc họng đỏ, ướt, có xuất tiết nhầy, trong dính vào thành sau họng. Khạc hay rửa hút đi thấy thành sau họng không nhẵn, có nổi vài tia máu và có ít nang lympho nổi lên thành các hạt nề đỏ.
- Viêm họng quá phát.
- Niêm mạc họng dày và đỏ, màn hầu và lưỡi gà cũng trở lên dày làm eo họng có vẻ hẹp lại.
- Đặc biệt ở trụ sau của amidan, niêm mạc nề dày lên làm thành trụ giả.
- Các nan lympho ở thành sau họng phát triển mạnh, quá phát thành từng đám nề, màu hồng hay đỏ nồi cao lên, do đó thường gọi là viêm họng hạt.
Viêm họng mạn xuất tiết
1.2. Viêm họng teo
- Niêm mạc trở nên nhẵn, khô, trắng bệch, các trụ giả mất đi, trụ amidan và màn hầu cũng mỏng đi làm họng có vẻ doãng rộng ra.
- Thành sau họng không thấy các nang lympho, niêm mạc trở lên khô, thiếu mềm mại, có các dải xơ trắng, sau thấy các vảy mỏng, khô, vàng bám ở thành sau họng.
2. Tiến triển và Biến chứng:
- Viêm họng mạn khi loại trừ được các yếu tố nguyên nhân cũng có thể tự khỏi được. Thường các viêm họng mạn sẽ lần lượt qua các giai đoạn xuất tiết, quá phát, teo nếu để kéo dài không được điều trị.
- Viêm họng mạn cũng thường đưa tới viêm thanh quản mạn, viêm thanh – khí quản mạn…hoặc các đợt viêm cấp như viêm amidan cấp, áp xe amidan…
- Nó cũng là yếu tố gây suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh do luôn phải khạc nhổ vì vướng họng, nhất là về đêm.
3. Hướng xử trí.
- Vệ sinh sạch họng hằng ngày bằng nước muối sinh lý.
- Không sử sụng chất kích thích như: rượu, bia, thuốc lá,
- Đeo khẩu trang phòng hộ khi tiếp xúc bụi, hóa chất.
- Nên uống nhiều nước ấm, không sử dụng nước lạnh( nước đá).
- Dùng thuốc hoặc các sản phẩm thảo dược giúp hỗ trợ điều trị viêm họng dứt điểm và phục hồi niêm mạc họng bị tổn thương, tham khảo sản phẩm TẠI ĐÂY




Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

Không cần tìm đâu xa “KHÁNG SINH” Trị viêm họng luôn có sẵn trong căn bếp của các mẹ

    Thuốc kháng sinh như một con dao 2 lưỡi. Rất nhiều người đang lạm dụng quá nhiều vào thuốc kháng sinh, tự ý mua về dùng mà không biết được mối nguy hại tiềm ẩn mà kháng sinh đem lại, có thể dẫn đến tình trạng kháng thuốc kháng sinh.
     Một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được công bố hồi năm 2014 về tình trạng kháng thuốc kháng sinh trên toàn cầu đã cảnh báo tình trạng kháng thuốc kháng sinh ở một số bệnh viêm nhiễm thông thường đã trở nên nghiêm trọng và có thể trở thành mối đe dọa lớn tới sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới.
     Trong khi đó quanh chúng ta không thiếu những loại kháng sinh lành tính từ thảo dược, không phải tìm đâu xa, chúng có ngay tại trong căn bếp của mỗi gia đình. Bài viết dưới đây chúng tôi xin chia sẻ những loại thực phẩm chứa kháng sinh luôn có sẵn trong căn bếp.
1. Tỏi 
     Tỏi thường được các mẹ nội trợ sử dụng như một loại gia vị để chế biến món ăn như: xào, nấu, pha nước chấm, làm tỏi đen, tinh dầu tỏi... Tỏi là siêu thực phẩm có chứa allicin - hợp chất có đặc tính rất giống với penicillin, thành phần chính trong nhiều thuốc kháng sinh, tỏi có đặc tính chống viêm, tính oxy hóa cao, người ta thường nhỏ tinh dầu tỏi chống virus gây viêm họng rất tốt như cảm cúm, chống ký sinh trùng, củ tỏi dễ mọc mầm nên hay bị vất bỏ tuy nhiên một nghiên cứ cho thấy tinh chất chứa trong mầm tỏi có tác dụng gấp 5 lần tỏi bình thường và dễ ăn hơn nên các mẹ đừng lãng phí mần tỏi nhé.
2. Củ Gừng.
     Từ xưa gừng được sử dụng như một vị thuốc, gừng có tác dụng vào các kinh phế, tỳ, vị dùng để chữa đau bụng, chân tay lạnh, cảm lạnh, ho, viêm họng, đau rát họng,... rất hiệu quả và thường được gọi với cái tên sinh khương. Người ta hay dùng gừng làm trà, hoặc kết hợp với mật ong để giúp tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh, tăng huyết áp khi pha với chanh và mật ong. Gừng trị cảm lạnh và có tính oxy hóa rất cao. Các hoạt chất bay hơi của gừng tươi có tác dụng kháng Histamin tức thì sẽ cắt cơn ho, hắt hơi rất nhanh (gấp 15 lần Cetirizin, 60 lần Fexofenadin).
Lưu ý: Không dùng gừng vào buổi tối.
3. Mật ong.
     Mật ong được ví như một loại kháng sinh, có tác dụng kháng khuẩn rất cao, sự kết hợp giữa mật ong với chanh hoặc quất để trị ho do viêm họng đây là sự kết hợp hoàn hảo. Theo nghiên cứu của USDA, mật ong chứa rất nhiều vitamin, khoáng chất, đường, kháng sinh tự nhiên có thể tiểu diệt được 60 dạng vi khuẩn, mật ong còn dùng ngâm với gừng trị cảm lạnh rất tốt. Nghiên cứu chỉ ra chất defensin-1 có trong thành phần của mật ong có tác dụng diệt vi khuẩn rất tốt khi bị viêm họng… Ngoài việc thúc đẩy hệ thống miễn dịch, mật ong còn giải độc máu và cải thiện chức năng gan.
4. Củ nghệ (chứa curcumin).
    Củ nghệ được các mẹ nội trợ dùng tạo màu cho các món ăn, hoặc sử dụng để đắp mặt nạ chăm sóc da, khi pha với mật ong để uống lại có tác dụng chữa viêm dạ dày, ngậm với mật ong trị viêm họng. Curcumin là một trong những chất chống viêm, chống oxy hoá điển hình. Nó là trợ thủ đắc lực trị rối loạn hệ miễn dịch như viêm toàn thân.
5. Hành tây.
     Trong hành tây có chứa hoạt chất Anthocyanin, hoạt chất này có tính oxy hóa mạnh. Tinh dầu hành ngăn chặn vi khuẩn, nấm họng.
6. Dau diếp cá , lá hẹ chống viêm hạ sốt trị ho do viêm họng.
     Diếp cá còn gọi là giấp cá các mẹ thường dùng để ăn sống, say lấy  nước để uống, cây có vị chua tính mát. Tuy nhiên lá diếp cá giã lấy nước uống sẽ hạ sốt, chống viêm trong các trường hợp viêm hầu họng, phế quản, hen suyễn, áp-xe phổi, phù nề…sẽ có tác dụng tốt.
     Lá hẹ là nguyên liệu tạo hương vị cho món ăn, người ta hay nấu canh hẹ, xào lá hẹ, muối dưa củ hẹ lá hẹ… bởi hương thơm của chúng. Tuy nhiên hẹ còn có những công dụng tuyệt vời hơn thế. Trong sách Bản Thảo Thập Di ghi: “trẻ em bị viêm tai, họng có thể lấy nước lá hẹ nhỏ vào để diệt vi khuẩn, hấp cách thủy với mật ong và đường phèn cũng chữa bệnh viêm họng rất tốt”. Thành phần của hẹ chứa các hoạt chất kháng sinh mạnh như allcin, odorin, sulfit, hợp chất đó có khả năng chống viêm mạnh hơn cả thuốc kháng sinh.
      Tất cả các nguyên liệu trên đều là những loại thực phẩm dễ tìm trong căn bếp của môi gia đình. Chính vì tác dụng tuyệt vời của chúng các mẹ hãy bổ sung nhiều hơn những loại thực phẩm này vào các bữa ăn hàng ngày để giúp phòng được viêm họng. Bên cạnh đó còn rất nhiều thực phẩm, thảo dược tốt cho sức khỏe hãy gọi điện đến tổng đài chăm sóc sức khỏe của chúng tôi để được các chuyên gia tư vấn.
Tổng đài miễn cước: 18005623
Hotline: 0946 383 426.






Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

Cách điều trị viêm họng, amidan không cần kháng sinh

Viêm họng, viêm amidan, viêm thanh quản, viêm họng hạt,…đây là các bệnh lý về đường hô hấp trên điển hình mà nhiều người gặp phải, bệnh dễ tái đi tái lại nhiều lần trong năm khiến người bệnh khó chịu cảm thấy mệt mỏi ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như cuộc sống.
Viêm họng, amidan,viêm thanh quản gây sốt, đau rát, mất giọng,...
 Sản phẩm viên ngậm An Hầu Đan với thành phần chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược, trong đó Cúc Lục Lăng là thành phần chính của sản phẩm giúp giảm nhanh các triệu chứng khó chịu do viêm họng, amidan gây ra như sốt, đau họng, ho, khàn tiếng, mất giọng,…mà không cần phải sử dụng đến kháng sinh, cảm nhận được hiệu quả của sản phẩm ngay từ viên ngậm đầu tiên. Ngoài ra sản phẩm An Hầu Đan còn giúp tăng cường sức đề kháng phòng tránh tái phát, giúp hơi thở thơm mát hơn. 
Khi bị viêm họng, amidan kèm theo hơi thở sẽ có mùi hôi
thiếu tự tin trong giao tiếp. 
Thông tin chi tiết về sản phẩm An Hầu Đan bạn có thể tham khảo dưới đây.
1.Thành phần:
Cao khô Sơn đậu căn: 100mg
Cao khô Thăng ma: 80mg
Cao khô Lược vàng: 80mg
Phụ liệu: Tinh bột, talc, magnesium stearate vừa đủ 1 viên.
2.Công dụng:
Hỗ trợ giảm ho, giảm đau rát ngứa họng, giảm các triệu chứng viêm trong các trường hợp sưng họng, viêm đường hô hấp trên.
An Hầu Đan cảm nhận hiệu quả sản phẩm ngay viên ngậm đầu tiên
3.Đối tượng sử dụng:
Dùng cho các trường hợp viêm đường hô hấp trên: Viêm họng cấp tính, mãn tính, viêm thanh quản, viêm amidan, viêm họng hạt.
Người lớn và trẻ em trên 2 tuổi bị ho do thay đổi thời tiết, môi trường, cảm lạnh, nhiễm lạnh.
4.Cách dùng:
Ngậm tan trong miệng và nuốt dần, người lớn liều trung bình dùng 1 viên/ lần x 4 lần/ ngày x 7-10 ngày, ngậm tan bất kể thời gian nào trong ngày.
Liều cao có thể dùng tới 10 viên/ ngày.
Trẻ em>2 tuổi: Dùng bằng ½ liều người lớn.
Lưu ý:
Không sử dụng sản phẩm đã hết hạn sử dụng.
Không dùng quá liều ghi trên toa.
Không dùng cho đối tượng dị ứng với các thành phần của sản phẩm.
Phụ nữ có thai, cho con bú cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.
5.Bảo quản:
Để nơi khô mát, tránh ánh sáng trực tiếp, nhiệt độ dưới 30 độ C, để xa tầm tay của trẻ em.
Liên hệ tư vấn và đặt hàng:
Hotline: 0946 383 426

Sản phẩm An Hầu Đan được Bộ Y Tế chứng nhận và cấp phép.

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Đau họng có nguy hiểm không?

Đau họng là triệu chứng rất thường gặp, từ mức độ nhẹ chỉ gây cảm giác khó chịu đến mức độ nặng ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt. Nó thường kèm theo các chứng khác như: khó nuốt, khó thở, ho,…Có thể do nguyên nhân cụ thể tại họng như viêm amidan cấp, nhưng cũng có thể do nguyên nhân ngoài họng phức tạp, khó xác định như loạn cảm họng…
Để biết chính xác vấn đề đau họng mình đang gặp phải do đâu chúng ta cùng tìm hiểu chi tiết hơn về những nguyên nhân gây ra tình trạng đau họng để có hướng điều trị hiệu quả nhất.
Đau họng không nên chủ quan
1.Do viêm.
-Viêm cấp: thường gặp viêm họng cấp hay viêm mũi họng cấp: có cảm giác khô, rát họng.
+Viêm amidan đợt cấp: đau họng kèm nuốt đau, ho, sốt.
+Áp xe, viêm tấy amidan, viêm tấy thành sau, bên họng: đau có vị trí khu trú, nuốt đau rõ rệt ảnh hưởng đến ăn uống.
Viêm mạn: Viêm họng mạn, viêm amidan mạn: đau nhẹ, chủ yếu là ngứa, rát, vướng ở họng.
Viêm đặc hiệu: lao, giang mai họng thể loét gây đau họng dữ dội, không ăn uống được.
2. Do u.
Ung thư amidan, ung thư vòm mũi họng (N.P.C), ung thư hạ họng – thanh quản đều gây đau họng rõ rệt, nuốt đau, đau nhói lan lên tai.
3. Nguyên nhân khác:
- Dị vật: Cấu trúc họng gồm nhiều khe, rãnh, hố nên dị vật dễ rơi vào các vị trí như cắm vào amidan, rơi vào hố lưỡi thanh thiệt, xoang lê 2 bên. Dị vật hay gặp nhất do thức ăn có xương, nhai nuốt vội dẫn đến hóc xương cá, xương gà. Đau tăng khi nuốt, có vị trí rõ rệt.
- Mỏm tram dài gây đau họng khu trú, đau rõ khi nuốt.
- Liệt họng, nhược cơ, loạn cảm họng cũng gây đau họng, mức độ nhẹ nhưng gây khó chịu ảnh hưởng đến sinh hoạt.

Điều trị đau họng, đau họng, đau họng là biểu hiện của bệnh gì bệnh gì, viêm họng, amidan, viêm họng hạt, viêm thanh quản, an hầu đan,




Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

Tại sao viêm họng, amidan dùng kháng sinh mãi không khỏi

Khi thời tiết thay đổi thất thường, hay những thời điểm giao mùa là điều kiện tốt nhất để các vi khuẩn và virut gây bệnh tấn công hệ miễn dịch của con người. Những bệnh lý về hô hấp đặc biệt là bệnh viêm họng được thống kê là khởi phát và tái phát nhiều nhất vào thời gian này.
Môi trường là điều kiện thuận lợi nhất để vi khuẩn, virut hoạt động. Vì vậy khi môi trường quá ẩm, quá khô hanh, quá lạnh hay ô nhiễm với nhiều bụi bẩn, khói thuốc lá,…là nguyên nhân gây bệnh viêm họng . Ngoài ra uống quá nhiều rượu cũng được cho là yếu tố khiến cổ họng dễ bị tổn thương.
Viêm họng thường sẽ đi cùng những triệu chứng sốt, đau đầu, ho, ngứa rát cổ họng, nuốt khó, khản tiếng,…khiến người bệnh khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Vậy để giúp phòng tránh và ngăn ngừa được bệnh tái phát chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân gây ra viêm họng là do đâu, từ đó sẽ tìm cách và lựa chọn biện pháp phòng bệnh và điều trị sao cho hiệu quả nhất mà không ảnh hưởng đến sức khỏe sau này.
 Viêm họng, amidan gây khó chịu, sốt, đau họng,... ảnh hưởng đến cuộc sống.
Viêm họng chủ yếu là do các loại vi khuẩn như phế cầu, liên cầu, tụ cầu,…hoặc virut cúm, sởi tấn công. Trong đó liên cầu khuẩn nhóm A( Streptococcus) được đánh giá là nguy hiểm nhất do có thể dẫn đến các biến chứng như viêm khớp cấp hay viêm cầu thận…
Theo thống kê mới nhất thì có 20% trường hợp bị viêm họng là do vi khuẩn, viêm bội nhiễm như viêm xoang, viêm tai giữa, viêm amidan,…
Có tới 80% viêm họng là do virut, do hệ miễn dịch của cơ thể do tác động của yếu tố bên ngoài như khói bụi, thuốc lá,thời tiết… Đối với trường hợp này dùng kháng sinh sẽ không có tác dụng, chính vì vậy mà nhiều người viêm họng uống kháng sinh đến 10 ngày mà bệnh vẫn không khỏi, người mệt, khó chịu, nhờn thuốc,…
Để chủ động trong việc phòng bệnh và ngăn ngừa bệnh tái phát chúng ta cần lưu ý về chế độ ăn uống sinh hoạt hằng ngày, tập thể dục thể thao, giữ vệ sinh khoang miệng, sử dụng các sản phẩm thực phẩm chức năng để giúp tăng cường miễn dịch, phòng bệnh tái phát, giảm nguy cơ mắc bệnh, hạn chế được việc sử dụng đến kháng sinh,…
An Hầu Đan là sản phẩm mang lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ điều trị bệnh viêm họng cấp và mãn tính, viêm amidan, viêm họng hạt với sự kết hợp của các thành phần thảo dược như Cúc LụcLăng, Thăng Ma, Sơn Đậu Căn, Lược Vàng. Giúp giảm nhanh các triệu chứng khó chịu do viêm họng gây ra như ho, đau rát họng, khan tiếng,…
Cúc Lục Lăng dùng cho những trường hợp
Viêm hầu họng, viêm đường hô hấp, viêm hạch, cúm do virus,...
An Hầu Đan được sản xuất dưới dạng viên ngậm (rất tiện sử dụng và mang theo người), giúp thẩm thấu nhanh qua niêm mạc họng, làm dịu họng nhanh chóng,  ngoài ra với thành phần chính là Cúc Lục Lăng giúp tăng cường miễn dịch, tiêu viêm, ngăn ngừa gốc tự do( tế bào gây ung thư).
An Hầu Đan là sản phẩm được nghiên cứu bởi Bác sĩ Hoàng Sầm, Chủ tịch Viện Y Học Bản Địa Việt Nam.
Thông tin chi tiết về sản phẩm An Hầu Đan tham khảo TẠI ĐÂY
Tư vấn và đặt mua sản phẩm: 0946 383 426.




Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

An Hầu Đan hết viêm họng, amidan

1.Thành phần:
Cao khô Sơn đậu căn: 100mg
Cao khô Thăng ma: 80mg
Cao khô Lược vàng: 80mg
Phụ liệu: Tinh bột, talc, magnesium stearate vừa đủ 1 viên.
An Hầu Đan không còn nỗi lo viêm họng, amidan tái phát
2.Công dụng:
Hỗ trợ giảm ho, giảm đau rát ngứa họng, giảm các triệu chứng viêm trong các trường hợp sưng họng, viêm đường hô hấp trên.
3.Đối tượng sử dụng:
Dùng cho các trường hợp viêm đường hô hấp trên: Viêm họng cấp tính, mãn tính, viêm thanh quản, viêm amidan, viêm họng hạt.
Người lớn và trẻ em trên 2 tuổi bị ho do thay đổi thời tiết, môi trường, cảm lạnh, nhiễm lạnh.
4.Cách dùng:
Ngậm tan trong miệng và nuốt dần, người lớn liều trung bình dùng 1 viên/ lần x 4 lần/ ngày x 7-10 ngày, ngậm tan bất kể thời gian nào trong ngày.
Liều cao có thể dùng tới 10 viên/ ngày.
Trẻ em>2 tuổi: Dùng bằng ½ liều người lớn.
Lưu ý:
Không sử dụng sản phẩm đã hết hạn sử dụng.
Không dùng quá liều ghi trên toa.
Không dùng cho đối tượng dị ứng với các thành phần của sản phẩm.
Phụ nữ có thai, cho con bú cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.
5.Bảo quản:
Để nơi khô mát, tránh ánh sáng trực tiếp, nhiệt độ dưới 30 độ C, để xa tầm tay của trẻ em.
Liên hệ tư vấn và đặt hàng:
Công Ty TNHH Y Dược Kinh Đô.
Địa chỉ: Số 12 ngách 34 ngõ 100 Hoàng Quốc Việt, Xuân La, Tây Hồ, HN.
Hotline: 1800 6523 – 0946 383 426



Thứ Hai, 20 tháng 11, 2017

Cúc lục lăng


Laggera alata (D. Don) Sch. Bip. ex Oliv.
Tên đồng nghĩa: Biumea aicita (D. Don) DC. Erigeron datum D. Don
Tên khác: Linh đan hôi, cúc hoa xoắn, cúc đời, la ghe cánh.
 Họ: Cúc (Asteraceae).  
Cúc lục lăng
Mô tả
       Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,8 - 1 m. Thân mập, cứng, phân nhánh nhiều, có rãnh dọc và có cánh, cánh rộng 4-5 mm, không khía răng, màu lục sẫm. Lá mọc so le,  không cuống, hình mác, dài 2 - 8 cm, rộng 0,5 - 2 cm, gốc thuôn, đầu tù hoặc nhọn, mép khía răng, hai mặt có lông mịn áp sát và tuyến tiết. 
        Cụm hoa mọc ở đầu ngọn và kẽ lá; lá bác nhọn xếp thành nhiều hàng; hoa màu trắng, cao 6-7 mm; hoa cái nhiều; hoa lưỡng tính 8-12; mào lông màu trắng, rụng sớm; tràng hoa cái có 4 răng nhọn, tràng hoa lưỡng tính có 5 thuỳ; nhị 5; bầu nhẵn.
        Quả bế hình trụ, có lông, có 10 cạnh, dài 4-5 mm.
         Mùa hoa quả: tháng 10-1.
Phân bố, sinh thái
Chi Laggera Sch. - Bip. phân bố chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới, ôn đới ấm và một số loài có ở vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam, chi này có 4 loài, 2 loài làm thuốc trong đó có loài cúc lục lăng trên. Trên thế giới, cúc lục lăng phân bố khá rộng rãi từ phía đông Ấn Độ sang Mianma, Trung Quốc, xuống phần bắc Lào, Thái Lan và Malaysia. Ở Việt Nam, loài này đã ghi nhận được ở hầu hết các tỉnh miền núi giáp biên giới phía bắc, như Cao Bằng, Lạng Sơn, Ọuảng Ninh, Lào Cai. Sơn La, Bắc Cạn... và ở phía nam bao gồm: Kon Tum (Kon Plông), Đắc Lẳc (Đắc Min cũ), Lâm Đồng (Laim Bian, Đức Trọng).
      Cây ưa ẩm, ưa sáng, thường mọc ở bãi cỏ, ven đồi, nương rẫy rũ, dưới tán rừng thông... độ cao phân bố: 100 - 1300m. Hàng năm cây con mọc từ hạt vào tháng 3-4; sinh trưởng nhanh trong vụ xuân - hè; có hoa khoảng tháng 7-8; đến tháng 9-10 sau khi quả già, toàn cây tàn lụi. Cây trồng được băng hạt.
Bộ phận dùng
Toàn cây.
Tác dụng dược lý
1. Thử độc tính cấp
         Cao khô toàn cây cúc lục lăng được tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng với liều 1000 mg/kg chuột vẫn không chết. Cao được chế bằng cách, lấy  toàn cây cúc lục lăng phơi khô, tán thành bột thô, rồi chiết bằng ethanol 50%. Dịch chiết dược bốc hơi rồi cô dưới áp suất giảm đến thể chất cao khô. Cao này cũng được nghiên cứu tác dụng lợi tiểu sau đây [Dhavvan et al., 1977: 208].
2. Tác dụng lợi tiểu
         Cho chuột cổng trắng uống cao khô cúc lục lăng với liều 250 mg/kg một dung dịch có 5mg cao/ml (thể tích uống là 5 ml/100g chuột), lô đối chứng cho uống nước với cùng thể tích 5 ml/100g, rồi cho vào lồng chuyển hoá, mỗi lồng một con chuột. Kết quả cho thấy cao 5 ml/100g có lác dụng lợi tiểu [Dhawan et al„ 1977: 208].
          Tác dụng chống viêm của các hợp chất plienolic tổng số được chiết từ toàn cây cúc lục lăng đã được đánh giá trên một số mô hình viêm cấp tính và viêm mạn tính in vivo. Trong các mô hình gây viêm cấp thực ngiệm, các chất phenolic tổng số ức chế có ý nghĩa phù tai ở chuột nhắt trắng do bôi xylen vào tai chuột; ức chế có ý nghĩa phù chân chuột cống trắng do tiêm vào dưới da gan bàn chân chuột carragenin để gây viêm; và ức chế tính thấm mạch do acid acetic gây ra ở chuột nhắt trắng.
         Trên mô hình gây rỉ dịch màng phổi do carragenin ở chuột cống trắng, hợp chất phenolic tổng số của cúc lục lăng ức chế có ý nghĩa dịch rỉ viêm màng phổi, ức chế sự di cư bạch cầu, làm giảm nồng độ lysozym và malonyldialdeliyd trong huyết thanh; làm tăng hàm lượng superoxyd - dismutase (SOD) và glutathion peroxydase (GSH - PX) trong huyết thanh; đồng thời cũng làm giảm hàm lượng protein tổng số, nitric oxyd (NO) và prostaglandin E2 (PGE2) trong dịch rỉ màng phổi (Wu et al., 2006a).
Trên các mô hình thí nghiệm viêm mạn tính, hợp chất phenolic tổng số của cúc lục lăng ức chế có ý nghĩa u hạt thực nghiệm do cấy viên bông vê tròn ở chuột cống trắng. Những kết quả nghiên cứu trên mô hình cấp tính và mạn tính chỉ rằng hợp chất phenolic tổng  số có tác dụng chống viêm mạnh. Cơ chế tác dụng chống viêm đã xác định được là do sự ức chế tạo thành prostaglandin, do ảnh hưởng đến hệ thống oxy hoá và do ức chế sự giải phóng lysozom. Ngoài ra, hàm lượng các hợp chất phenol tổng số trong cúc lục lăng, và cấu tạo các hoạt chất chính trong cúc lục lăng cũng đã được phân lập và xác định (Wu et al„ 2006a).
Nghiên cứu độc tính cấp thấy rằng, dùng hợp chất phenolic tổng số đến liều 8,5 g/kg thể trọng, thuốc vẫn dung nạp tốt, không thấy có biểu hiện độc ở chuột nhắt trắng (Wu et al., 2006a).
4. Tác dụng bảo vệ gan
       Tác dụng bảo vệ gan của flavonoid tổng số phân lập dược từ cúc lục lăng, đã được nghiên cứu trên tổn thương do carbon tetraclorid (CCL4) ở tế bào gan chuột cống trắng mới sinh và ở chuột cống trắng bị tổn thương gan do CCL4
         In vitro, flavonoid tổng số ở nồng độ 1-100 mg/ml cải thiện được tỷ lệ tế bào gan sống khi nuôi cấy có thêm CCL4 và ức chế được sự thoát ra khỏi tế bào gan hai enzym là aspartat - amino - transferase (AST) và alanin - ainino - transferase (ALT) do CCL4.
         In vivo, cho chuột cống trắng uống với liều 50, 100 và 200 mg/kg làm giảm có ý nghĩa hàm lượng AST, ALT, protein tổng số và albumin trong huyết thanh chuột, cũng như làm giảm hàm lượng hydroxyprolin và acid sialic trong gan. Xét nghiệm bệnh lý mô học thấy rằng, sự tổn thương gan được cải thiện ở lô điều trị với flavonoid tổng số. Đồng thời, hoạt tính dọn gốc tự do như gốc 1,1- diphenyl - 2 - picrylhvdrazvl (DPPH) và gốc superoxyd của flavonoid tổng số cũng đã xác định được (Wu et al., 2006b). 
        Để hiểu cụ thể cơ chế tác dụng bảo vệ gan của flavonoid tổng số trong cúc lục lăng, 9 hợp chất trong flavonoid đã đưọc xác định và nghiên cứu chứng minh tác dụng bảo vệ gan trong các thí nghiệm in vitro và in vivo. Kết quả cho thấy, tác dụng bảo vệ gan của flavonoid tổng số trong cúc lục lăng có liên quan với tác dụng chống oxy hoá và tác dụng chống viêm. Tác dụng trung hoà các loại oxygen phản ứng (reactive oxygen) do cơ chế phi enzym (không có liên quan đến enzym) và tác dụng tăng cường hoạt tính của các enzym oxy hoá ở gan có nguồn gốc tự nhiên, có thể là các cơ chế chính vệ tác dụng của các flavonoid trong cúc lục lăng trên tổn tlnrong gan do CCL4 (Wu et al., 2006b).
Tính vị, công năng
Toàn cây cúc lục lăng vị đắng và cay, tính hơi ấm, có mùi thơm; có công năng tiêu thũng, tán ứ, tiêu độc, giảm đau. Sách "Bản thảo cầu nguyên" ghi: cúc lục lăng vị cay ngọt, tính bình; sách "Tân hoa bản thảo cương yếu" ghi: vị cay, đắng, tính hàn; sách "Phúc kiến dân gian thảo dược" ghi: vị đắng, hơi cay, tính ấm; sách "Nam Ninh thị dược vật chí" ghi: vị cay, đắng, tính hơi ấm; sách "Mân Đông bản thảo ghi: cúc lục lăng vào ba kinh là phế, tỳ và bàng quang; có công năng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, tiêu thũng, khư phong trục thấp, chỉ thông, thị thống kinh [TDTH, 1997, III: 509].
Công dụng
Toàn cây cúc lục lăng được dùng trị cảm cúm, ho kéo dài; đau khớp xương, đau lưng; viêm thận, phù thũng, vô kinh, đau bụng trước khi sinh. Liều dùng hàng ngày 15 - 30g (dùng tươi 30 - 60g), sắc chia 2 lần uống. Dùng ngoài trị mụn nhọt, viêm mô tế bào, tràng nhạc, đau do đòn ngã, bỏng, eczema, rắn cắn. Lấy một lượng vừa đủ cây tươi, giã đắp ngoài, hoặc đun lấy nước tắm rửa. Ở Ấn Độ và Madagascar, cúc lục lăng được dùng làm thuốc khử khuẩn, tay uế; lá để cầm máu khi bị các vết thương chém chặt [Chopra et al., 2001: 149; Srivastava, 1989: 82].